Thứ tư, 21/10/2020 | 23:28

Thứ tư, 21/10/2020 | 23:28
Cập nhật 09:24 ngày 16/10/2020

Ảnh hưởng của thức ăn sử dụng bã sữa đậu nành lên men bán rắn đến tăng trưởng và hình thái ruột của cá rô phi (Oreochromis niloticus)

TÓM TẮT
Xử lý phụ phế phẩm từ nông nghiệp nhằm nâng cao giá trị dinh dưỡng bã sữa đậu nành (BSĐN) ở dạng dễ hấp thu để sử dụng làm thức ăn thủy sản đang được đặc biệt chú trọng. Sản phẩm phụ phẩm bã sữa đậu nành lên men bán rắn bằng vi khuẩn Bacillus subtilis B3 được sử dụng làm nguyên liệu thay thế protein bột cá trong công thức thức ăn (CTTA) cá rô phi được đánh giá và kiểm tra ảnh hưởng lên hệ tiêu hóa của cá.
BSĐN lên men được sử dụng làm thay thế trong CTTA cá rô phi ở các mức 70, 80, 90 và 100% bột cá và thức ăn chứa bột cá (ĐC). Thí nghiệm được nuôi sau 8 tuần, trong bể composite, 15 con/bể, lặp lại 3 lần cho mỗi nghiệm thức. Đánh giá tăng trưởng, các chỉ số sinh học như VSI, HSI, GSI và ISI sau khi nuôi. Kiểm tra hình thái mô học của ruột qua các chỉ số chiều dài, độ rộng, mô liên kết và lớp dưới niêm mạc.
Kết quả cho thấy ở nghiệm thức thay thế bột cá ở mức 90% tăng 3,6g so với đối chứng sau 8 tuần nuôi. Chỉ số sinh học như VSI tăng cao ở các thức ăn bổ sung BSĐN, chỉ số HSI và GSI không có sự khác biệt với thức ăn đối chứng và chỉ số ISI ở nhóm thức ăn thay thế tương đương đối chứng ngoại trừ khi thay thế 100%. Hình thái mô ruột của các nghiệm thức thay thế bột cá đều tăng cao so với nghiệm thức đối chứng.
Kết quả cho thấy có thể thay thế bột cá bằng BSĐN lên men trong CTTA cá rô phi và không gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng cá và không ảnh hưởng đến sức khỏe của cá.
Key words: Rô phi, bã sữa đậu nành lên men bán rắn, nhung mao, hình thái ruột.
1. Giới thiệu
Hiện nay nhu cầu sử dụng đậu nành cho thực phẩm gia tăng nhanh chóng, các phụ phẩm từ ngành công nghiệp chế biến sữa đậu nành rất lớn, riêng sản lượng bã sữa đậu nành ở nhà máy Vinasoy khoảng 1200 tấn/tháng. Mỗi ký đậu nành sản xuất sữa có lượng phụ phế phẩm khoảng 1,1 ký phụ phẩm từ chế biến sữa đậu nành (O’Toole, 1999).
Các thử nghiệm sử dụng bã sữa đậu nành (BSĐN) làm thức ăn trên đối tượng nuôi thủy sản còn rất ít. Trên cá Rô phi đơn tính, nhóm tác giả ở Ai Cập đã thử nghiệm sử dụng trực tiếp phụ phẩm từ chế biến sữa đậu nành vào khẩu phần thức ăn có thể thay thế đến 75% bột cá mà không có sự khác biệt về tăng trưởng (El-Saidy, 2011). Một nghiên cứu khác sử dụng phụ phẩm từ chế biến sữa đậu nành ở mức 10% và 20% trong khẩu phần ăn của tôm thẻ chân trắng được thử nghiệm tại Hawaii năm 2010, kết quả tăng trưởng kém do độ tiêu hóa thức ăn ở mức rất thấp 18,2% (Forster và ctv., 2010).
Các nghiên cứu tiến hành xử lý nguồn phụ phẩm này, trong đó việc ứng dụng công nghệ lên men và thủy phân các nguyên liệu để tạo ra sản phẩm có giá trị tiêu hóa cao để sử dụng trong thức ăn thủy sản vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Các phương pháp và chủng loại vi khuẩn lên men khác nhau trên BSĐN sẽ cho ra các sản phẩm hữu ích và đặc hiệu khác nhau (Ma và ctv., 1997). Có rất nhiều chủng vi sinh được sử dụng để lên men phụ phẩm từ chế biến sữa đậu nành tạo ra các sản phẩm đặc thù từ các chủng vi sinh khác nhau. Sử dụng chủng vi sinh Bacillus subtilis NB22 để tạo ra kháng sinh lipopeptide, Iturin A (Ohno và ctv., 1996), chủng NRRL 330+NCIM 653 để tạo ra citric acid (Khare và ctv., 1995), chủng Aspergillus japonicus MU-2 cho sản phẩm β-fructofuranosidase (Hayashi. và ctv., 1992), chủng Bacillus subtilis để thu nhận hợp chất phenolic (Chung và ctv., 2011), và chủng Flammulina velutipes để thu nhận sản phẩm polysaccharides (Shi và ctv., 2012). Nghiên cứu của (Matsuo, 1989) khi lên men phụ phẩm từ chế biến sữa đậu nành bằng nấm Rhizopus oligosporus có hàm lượng nitrogen tan tăng 0,15% lên 0,84%, thêm vào đó acid amin tự do tăng mạnh từ 0,02% lên 0,41%. Công nghệ lên men phụ phẩm từ chế biến sữa đậu nành bán rắn truyền thống, cho thấy tăng hàm lượng protein từ 22% lên 25%, và các bị cắt thành những mạch peptide nhỏ hơn (Matsuo, 1997). Nghiên cứu của (Rashad và ctv., 2011) cho thấy khi lên men phụ phẩm từ chế biến sữa đậu nành bằng công nghệ bán rắn với các chủng nấm men cho thấy gia tăng hàm lượng ni-tơ từ 20 đến 50%.
Kasai và ctv. (2004) đã tiến hành thí nghiệm tiêu hóa vách tế bào phụ phẩm từ chế biến sữa đậu nành bằng hỗn hợp enzyme cellulose và pectinase. Kết quả cho thấy hỗn hợp enzyme đã tiêu hóa được 83-85% tế bào phụ phẩm từ chế biến sữa đậu nành thô. Cũng một nghiên cứu khác của (Kasai và ctv., 2006) cũng chỉ ra rằng vách tế bào thực vật trong bột đậu nành bị tiêu hóa hoàn toàn bằng enzyme (cellulase và pectinase) và lượng chất dinh dưỡng (đường glucose và chất béo) trong tế bào được giải phóng tăng lên sau mỗi quá trình tiêu hóa.
Đậu nành khi lên men với chủng Bacillus subtilis giảm hàm lượng β-conglycinin, biến đổi các protein phân tử lớn thành các peptide nhỏ hơn và làm giảm các yếu tố kháng dinh dưỡng, thể hiện tác dụng tốt trên lợn và cá hồi vân (Feng và ctv., 2007; Yamamoto và ctv., 2010). Khi lên men bã đậu nành với vi khuẩn B. subtilis cho thấy tiêu hóa được cải thiện (Kiers và ctv., 2000), tăng hàm lượng protein, tăng hoạt tính oxi hóa, và giảm các tác nhân kháng dinh dưỡng như trypsin và kháng protein (Teng và ctv., 2012). Cá hồi khi ăn thức ăn chứa đậu nành lên men cải thiện hình thái mô ruột (Yamamoto và ctv., 2012).
Vi khuẩn Bacillus subtilis B3 sử dụng trong nghiên cứu này là một chủng vi khuẩn có khả năng tiết ra enzyme protease, cellulase và amylase ngoại bào có hoạt tính mạnh, là kết quả từ dự án “Hoàn thiện và sản xuất thử nghiệm chế phẩm vi sinh BioShimp-RIA2 phòng bệnh do Vibrio spp. gây ra trên tôm nuôi” của do nhóm nghiên cứu (Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh, 2016), Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2 thực hiện, được sử dụng để lên men bán rắn BSĐN trong nghiên cứu này. Nguyên liệu BSĐN sau khi lên men được sử dụng làm thức ăn cho cá rô phi để đánh giá tăng trưởng, chỉ số sinh học và hình thái mô ruột khi thay thế bột cá trong công thức thức ăn.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Vật liệu
Nguyên liệu bã sữa đậu nành từ công ty chế biến sữa Vinasoy Bình Dương đã được lên men bán rắn với chủng vi khuẩn Bacillus subtilis B3. Cá rô phi giống được cung cấp bởi trại cá giống tỉnh Tiền Giang.
2.2 Đánh giá tăng trưởng, các chỉ số sinh học và hình thái mô ruột của cá rô phi
Thức ăn thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành trên 5 thức ăn gồm thức ăn đối chứng, 4 thức ăn BSĐN lên men thay thế  70 %, 80%, 90% và 100% bột cá từ công thức đối chứng (Bảng 1).
Bảng 1. Thức ăn thay thế bột cá bằng BSĐN lên men
Nuôi thử nghiệm tăng trưởng cá rô phi
Cá rô phi có khối lượng 33-40g/con, nuôi trong 15 bể composite 500ml, mật độ 15 con/bể, nuôi trong 8 tuần. Mỗi bể composite lắp đặt hệ thống bơm lọc nước và hệ thống sục khí oxy. Cá được cho ăn 3 lần/ngày vào thời gian: 8 giờ, 12 giờ, 16 giờ cứ sau mỗi lần ăn khoảng 1 giờ tiến hành thu thức ăn thừa, pH bể nuôi luôn giữ ổn định khoảng từ 6,5-7.5.
Hình 1. Bố trí trí thí nghiệm
Sau khi nuôi đánh giá các chỉ tiêu như sau.
Trong đó:
Mc là khối lượng cá cuối khi thu (g), Mđ là khối lượng cá ban đầu (g), Mch là khối lượng cá chế t(g), Nđ là số lượng cá ban đầu, Nc là số lượng cá cá cuối cùng, T là thời gian nuôi (ngày)
Sau 8 tuần nuôi, cá được nhịn ăn trong 24 giờ trước khi thu mẫu. Chọn ngẫu nhiên 3 con cho mỗi nghiệm thức. Xác định trọng lượng thân, mẫu ruột được thu và bảo quản trong hỗn hợp dung dịch đệm phosphate 7,4 và fomalin 37% theo tỉ lệ 9:1. Mẫu được bảo quản cho tới khi sử dụng để đánh giá hình thái mô ruột.
Chỉ số sinh học
Đo các chỉ số nội tạng, gồm (VSI)=Wnội tạng/Wcá; chỉ số gan (HSI)=Wgan/Wcá; chỉ số túi mật (GSI)=Wmật/ Wcá và chỉ số ruột (ISI)=Wruột/Wcá, trong đó, W là trọng lượng.
Đánh giá hình thái mô ruột
Mẫu ruột sau sau khi bảo quản, được cố định bằng dung dịch Davidson’s (30 mL 95% ethanol, 20 mL 37% formaldehyde, 10 mL axit axetic băng và 30 mL nước cất). Cố định mẫu ít nhất 2 giờ, chuyển sang cồn 50%. Đặt bề mặt của mẫu ruột đã xử lý vào đáy khuôn inox, cố định bằng parafin. Cắt khối paraffin có chứa mẫu bằng máy cắt Microtome, độ dày lát cắt từ 5-6 µm. Sử dụng Hematoxylin & Eosin nhuộm mô ruột, sau đó đọc kết quả trên kính hiển vi JVC (TK-C1380E). Chiều dài tơ ruột và khoảng cách các tơ ruột được xác định theo kết quả đo bằng thước đo trên trắc vi thị kính 10X (nhân với hệ số 10) và trắc vi thị kính 40X (nhân với hệ số 2,525) để chuyển đổi sang đơn vị (mm).
Với trắc vi thị kính 10X, các chỉ số được đánh giá đo chiều cao của niêm mạc (CNM) ở 3 vị trí cao nhất, thấp nhất và trung bình. Với trắc vi thị kính 40X, đo độ rộng của niêm mạc (RNM) ruột ở vị trí giữa của niêm mạc; mô liên kết ở vị trí giữa niêm mạc (MLK) và lớp dưới niêm mạc và cơ ngoài (DNM). Số liệu được đánh giá so sánh theo thống kê Duncan bởi phần mềm SPSS ver.18. 
Hình 2. Các vị trí đo trên mô ruột 
CNM: Chiều cao niêm mạc
RNM: Chiều rộng niêm mạc
MLK: Mô liên kết (Lamina propria)
DNM: Lớp dưới niêm mạc và cơ ngoài 
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả tăng trưởng, các chỉ số sinh và hình thái mô ruột sau
Thành phần dinh dưỡng trong công thức thức ăn của cá rô phi.
Bảng 2. Thành phần dinh dưỡng thức ăn cá rô phi (VCK) (%)
Kết quả thành phần phần hóa học của thức ăn cá rô phi trong bảng 2 cho thấy hàm lượng protein, lipid của các nghiệm thức thức thức ăn không có khác biệt nhiều. Các thức ăn đạt tiêu chuẩn về hàm lượng dinh dưỡng cho thức ăn cá rô phi theo TCVN. 
Tăng trưởng của cá rô phi
Bảng 3. Kết quả tăng trưởng của cá rô phi ở các nghiệm thức thức ăn
Các chỉ số tăng trưởng của cá rô phi trên các nghiệm thức thức ăn sau 8 tuần nuôi ở Bảng 3 cho thấy không có sự khác biệt đáng kể (p≥0.05). Tuy nhiên, ở thức ăn thay thế 90% cho thấy tăng trọng cao nhất (tăng 3,6g so với thức ăn ĐC), ở nghiệm thức 100% cao hơn không đáng kể 1,34g so với nghiệm thức đối chứng, trong khi đó nghiệm thức 70% và 80% thấp hơn không đáng kể so với nghiệm thức đối chứng. Hệ số tăng trưởng đặc biệt (SGR) có kết quả tương tự như ở chỉ số tăng trưởng. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) ở các nghiệm thức ăn thay thế cao hơn so với thức ăn đối chứng, trong đó nghiệm thức 90% thấp nhất khi thay thế bột cá ở các nghiệm thức thức ăn.
Chỉ số sinh học
Bảng 4. Chỉ số nội tạng, gan, mật và ruột trên cá rô phi ở các nghiệm thức thức ăn
Các chỉ số sinh học của cá rô phi sau khi ăn thức ăn thay thế bột cá được thể hiện ở Bảng 4. Nhìn chung, chỉ số nội tạng VSI, cũng cho thấy có khuynh hướng cao hơn thức ăn đối chứng, tuy nhiên ở thức ăn thay thế 70% và 80% có chỉ số cao hơn khi thay thế 90% và 100% bột cá. Riêng các chỉ số như chỉ số gan HSI và chỉ số mật GSI lại cho thấy không có nhiều sự khác biệt giữa các nghiệm thức với nhau. Đặt biệt, chỉ số ruột ISI gia tăng tương ứng theo mức thay thế của BSĐN lên men trong công thức thức ăn và khi thay thế đến mức 100% bột cá chỉ số này gia tăng khá cao (0,029) so với thức ăn chứa bột cá (0,025).
Hình thái mô ruột sau
Bảng 5. Hình thái mô học ruột sau của cá rô phi
Các ký hiệu cùng cột khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Hình thái mô ruột được so sánh ở 4 thông số gồm chiều cao, độ rộng niêm mạc ruột, mô liên kết của niêm mạc và lớp dưới niêm mạc cùng cơ ngoài được đo ở Bảng 5 của các nghiệm thức thức ăn thay thế bột cá trên cá rô phi, nhìn chung, các chỉ số này ở nghiệm thức thức ăn 90% có sự tương đồng với thức ăn đối chứng (ĐC). Chiều cao của niêm mạc ruột bắt đầu khác biệt khi thay thế mức 90% bột cá ở thức ăn đối chứng (P<0,05), cao nhất ở nghiệm thức BSĐN lên men. Độ rộng của niêm mạc cá rô phi tăng mạnh và có khác biệt đáng kể khi thay thế BSĐN lên men ở mức 70%, tương tự như chiều dài, độ rộng niêm mạc lớn nhất ở nghiệm thức 100%. Mô liên kết ở các nghiệm thức thay thế BSĐN gia tăng độ rộng, ở nghiệm thức 80% và 100% có khác biệt đáng kể so với nghiệm thức đối chứng. Lớp dưới niêm mạc và cơ ngoài cho thấy ở nghiệm thức 90% tương đương đối với nghiệm thức thức ăn đối chứng và thấp hơn so với các nghiệm thức thức ăn còn lại.
IV. THẢO LUẬN
Tăng trưởng của cá rô phi, có thể thay thế BSĐN lên men đến mức 90 % bột cá so với  thức ăn đối chứng. Các chỉ số về tăng trọng, tăng trưởng đặc biệt, hệ số thức ăn hay tỷ lệ sống ở nghiệm thức 90% cao hơn thức ăn đối chứng. Điều này chứng tỏ protein của nguyên liệu BSĐN lên men có độ hấp thu tốt đối với cá rô phi ở mức từ 90%, có thể do vi khuẩn từ nguyên liệu này đã thủy phân tốt vách tế bào và protein thành những mạch ở mức này đủ khả năng giúp hấp thu khi so với mức 70% hay 80%, tuy nhiên khi tăng đến mức 100% làm chậm lại sự phát triển của cá do hàm lượng xơ cao (7,49%) so với (6,36%) của thức ăn đối chứng chứa bột cá. Việc sử dụng BSĐN lên men không có khác biệt khi thay thế bột cá bởi vì BSĐN sau khi lên men có khả năng gia tăng các chất dinh dưỡng do việc gia tăng protein (Shiu và ctv., 2015b; Nguyễn Thành Trung và ctv., 2018) và hàm lượng các mạch peptide nhỏ hơn nhờ các enzyme ngoại bào thủy phân (Kasai và ctv., 2004). Ngoài ra việc lên men BSĐN có tăng trưởng tốt trên cá chẽm miệng rộng khi thay thế đến 40g/kg khô đậu nành trong công thức thức ăn (Jiang và ctv., 2018).
Khi gia tăng thay thế bằng BSĐN lên men, các chỉ số sinh học như VSI tăng cao, điều này có thể do việc chuyển hóa dinh dưỡng được tích lũy vào nội tạng. Một điều đáng chú ý ở chỉ số gan HSI và mật GSI, chỉ số này giống nhau ở tấc cả các nghiệm thức thức ăn, cho thấy rằng BSĐN lên men đã không ảnh hưởng đến các chỉ số gan và mật ở cá rô phi. Ngoài ra, ở một nghiên cứu (Jiang và ctv., 2018) thay thế BSĐN lên men trên cá chẽm miệng rộng, cho thấy các chỉ số VSI và HSI khi thay thế hàm lượng cao sẽ giảm hai chỉ số này. Nghiên cứu trên cá hồi vân (Barnes và ctv., 2014) cho thấy khi gia tăng mức thay thế đậu nành lên men đến mức 50% sẽ cho thấy các chỉ số về nội tạng (VSI) và gan (HSI) giảm rõ rệt. Nguyên nhân các chỉ số ruột và gan ở các nghiệm thức BSĐN thay thế không khác biệt với đối chứng, có thể do đậu nành lên men đã cải thiện được dinh dưỡng và giảm được kháng protein như α’-conglycinin, α-conglycinin và β-conglycinin trong bã sữa đậu nành. Kết quả này cũng cho thấy tương tự như ở nghiên cứu ở cá mú (Shiu và ctv., 2015a) khi sử dụng nguyên liệu đầu nành thay thế bột cá cải thiện hình thái gan và ruột. Ở chỉ số ruột lại cho thấy ảnh hưởng của BSĐN lên men lên chỉ số ruột ở nghiệm thức 90% và 100% BSĐN lên men, sự gia tăng chỉ số ruột này cho thấy sự hấp thu và ảnh hưởng lên cá rô phi ở nguyên liệu này, việc gia tăng chỉ số ruột có thể do sự hấp thu tốt các chất dinh dưỡng do đã được thủy phân, chỉ số này phù hợp với hình thái mô của chiều cao (CNM) và độ rộng niêm mạc ruột (RNM) gia tăng so với đối chứng ở bảng 5. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của (Krogdahl và ctv., 2015) cho thấy khi hấp thu cao, chỉ số ruột gia tăng.
Ở hình thái mô ruột, như phía trên đã đề cập, chiều dài (DNM) và độ rộng (RNM) của thức ăn bổ sung BSĐN cho thấy gia tăng độ cao và độ dày ở cá rô phi. Và tương tự cũng quan sát được mô liên kết và lớp dưới niêm mạc cũng gia tăng, tuy nhiên duy nhất ở thức ăn 90% có lớp dưới niêm mạc thấp hơn đối chứng. Độ dài của các niêm mạc gia tăng theo giải thích của (Escaffre và ctv., 2007) là do sự thay đổi khả năng hấp thụ của tế bào ruột ở mức niêm mạc. Cũng theo nghiên cứu (Yamamoto và ctv., 2010) về hình thái ruột ở cá hồi vân khi ăn đậu nành lên men, cho thấy  hình thái mô ruột không gây ra bất kỳ sự thay đổi nào.
Kết quả này cho thấy rằng nguyên liệu bã sữa đậu nành lên men có thể thay thế bột cá trong công thức thức ăn cá rô phi ở mức 90 % mà không có ảnh hưởng đến sức khỏe của cá nuôi. Có thể được xem đây là một nguồn nguyên liệu trong thức ăn cho cá rô phi trong tương lai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Thành Trung, Nguyễn Văn Nguyện, Trần Văn Khanh, Lê Hoàng, Đinh Thị Mến, Nguyễn Thị Thu Hiền, Trần Thị Hồng Ngọc, Lê Thị Ngọc Bích, Võ Thị Cẩm Tiên và Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh, 2018. Tối ưu hoá điều kiện lên men khô đậu nành và đánh giá hình thái học mô ruột khi sử dụng để thay thế bột cá ở thức ăn tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei). Journal of Mekong fisheries. 11, 43-58.
Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh, 2016. Đề tài: Hoàn thiện và sản xuất thử nghiệm chế phẩm vi sinh BioShrimp-RIA2 phòng bệnh do Vibrio spp. gây ra trên tôm nuôi. Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Barnes, M.E., Brown, M.L., Bruce, T., Sindelar, S. và Neiger, R., 2014. Rainbow Trout Rearing Performance, Intestinal Morphology, and Immune Response after Long-term Feeding of High Levels of Fermented Soybean Meal. North American Journal of Aquaculture. 76, 333-345.
Chung, I.M., Seo, S.H., Ahn, J.K. và Kim, S.H., 2011. Effect of processing, fermentation, and aging treatment to content and profile of phenolic compounds in soybean seed, soy curd and soy paste. Food chemistry. 127, 960-967.
El-Saidy, D.M.S.D., 2011. Effect of using okara meal, a by-product from soymilk production as a dietary protein source for Nile tilapia (Oreochromis niloticus L.) mono-sex males. Aquaculture Nutrition. 17, 380-386.
Escaffre, A.-M., Kaushik, S. và Mambrini, M., 2007. Morphometric evaluation of changes in the digestive tract of rainbow trout (Oncorhynchus mykiss) due to fish meal replacement with soy protein concentrate. Aquaculture. 273, 127-138.
Feng, J., Liu, X., Xu, Z.R., Lu, Y.P. và Liu, Y.Y., 2007. The effect of Aspergillus oryzae fermented soybean meal on growth performance, digestibility of dietary components and activities of intestinal enzymes in weaned piglets. Animal Feed Science and Technology. 134, 295-303.
Forster, I.P., Dominy, W.G., Conquest, L.D., Ju, Z.Y. và Grey, M., 2010. Use of agriculture byproducts in diets for pacific white shrimp Litopenaeus vannamei. Avances en Nutrición Acuícola X - Memorias del Décimo Simposio Internacional de Nutrición Acuícola, 8-10 de Noviembre, San Nicolás de los Garza, N. L., México. ISBN 978-607-433-546-0. Universidad Autónoma de Nuevo León, Monterrey, México., 366-392.
Hayashi., S., Matsuzaki., K., Kawahara., T., Takasaki., Y. và Imada., K., 1992. Utilisation of soybean residue for the production of β-fructofuranosidase. Bioresource Technology. 41, 231-233.
Jiang, Y., Zhao, P.F., Lin, S.M., Tang, R.J., Chen, Y.J. và Luo, L., 2018. Partial substitution of soybean meal with fermented soybean residue in diets for juvenile largemouth bass, Micropterus salmoides. Aquaculture Nutrition. 24, 1213-1222.
Kasai, N., Konishi, A., Iwai, K. và Maeda, G., 2006. Efficient Digestion and Structural Characteristics of Cell Walls of Coffee Beans. J. Agric. Food Chem. 54.
Kasai, N., Murata, A., Inui, H., Sakamoto, T. và Kahn, R.I., 2004. Enzymatic High Digestion of Soybean Milk Residue (Okara). J. Agric. Food Chem. 52, 5709-5716.
Khare, S., Jha, K. và Gandhi, A., 1995. Citric Acid Production from Okara (soy-residue) by Solid-state Fermentation. Bioresource Technology. 54 323-325.
Kiers, J.L., laeken, A.E.A.V., Rombouts, F.M. và Nout, M.J.R., 2000. In vitro digestibility of Bacillus fermented soya bean. International Journal of Food Microbiology. 60, 163-169.
Krogdahl, A., Gajardo, K., Kortner, T.M., Penn, M., Gu, M., Berge, G.M. và Bakke, A.M., 2015. Soya Saponins Induce Enteritis in Atlantic Salmon (Salmo salar L.). Journal of agricultural and food chemistry. 63, 3887-3902.
Ma, C.-Y., Liu, W.-S., Kwok, K.C. và Kwok, F., 1997. Isolation and characterization of proteins from soymilk residue (okara) Food Research International. 29, 799-805.
Matsuo, M., 1989. Morphological and Physicochemical Properties and Composition of "Okara" Fermented with Rhizopus oligosporus. Nippon Eiyo Shokuryo Gakkaishi. 42, 173-178.
Matsuo, M., 1997. Preparation and Components of Okara-ontjom, a Traditional Indonesian Fermented Food. Nippon Shokuhin Kagaku Kogaku Kaishi. 44, 632-639.
O’Toole, D.K., 1999. Characteristics and Use of Okara, the Soybean Residue from SoyMilk ProductionsA Review. J. Agric. Food Chem. 47, 363−371.
Ohno, A., Ano, T. và Shoda, M., 1996. Use of soybean curd residue, okara, for the solid state substrate in the production of a lipopeptide antibiotic, iturin A, by Bacillus subtilis NB22. Process Biochemistry. 31, 801-806.
Rashad, M.M., Mahmoud, E.A., Abdou, M.H. và Nooman, U.M., 2011. Improvement of nutritional quality and antioxidant activities of yeast fermented soybean curd residue. African Journal of Biotechnology. 10, 5750-5759.
Shi, M., Yang, Y., Guan, D., Zhang, Y. và Zhang, Z., 2012. Bioactivity of the crude polysaccharides from fermented soybean curd residue by Flammulina velutipes. Carbohydrate polymers. 89, 1268-1276.
Shiu, Y.-L., Hsieh, S.-L., Guei, W.-C., Tsai, Y.-T., Chiu, C.-H. và Liu, C.-H., 2015a. UsingBacillus subtilisE20-fermented soybean meal as replacement for fish meal in the diet of orange-spotted grouper (Epinephelus coioides, Hamilton). Aquaculture Research. 46, 1403-1416.
Shiu, Y.-L., Wong, S.-L., Guei, W.-C., Shin, Y.-C. và Liu, C.-H., 2015b. Increase in the plant protein ratio in the diet of white shrimp,Litopenaeus vannamei (Boone), using Bacillus subtilis E20-fermented soybean meal as a replacement. Aquaculture Research. 46, 382-394.
Teng, D., Gao, M., Yang, Y., Liu, B., Tian, Z. và Wang, J., 2012. Bio-modification of soybean meal with Bacillus subtilis or Aspergillus oryzae. Biocatalysis and Agricultural Biotechnology. 1, 32-38.
Yamamoto, T., Iwashita, Y., Matsunari, H., Sugita, T., Furuita, H., Akimoto, A., Okamatsu, K. và Suzuki, N., 2010. Influence of fermentation conditions for soybean meal in a non-fish meal diet on the growth performance and physiological condition of rainbow trout Oncorhynchus mykiss. Aquaculture. 309, 173-180.
Yamamoto, T., Matsunari, H., Sugita, T., Furuita, H., Masumoto, T., Iwashita, Y., Amano, S. và Suzuki, N., 2012. Optimization of the supplemental essential amino acids to a fish meal-free diet based on fermented soybean meal for rainbow trout Oncorhynchus mykiss. Fisheries Science. 78, 359-366.
EFFECT OF FERMENTATION OF SOY MILK RESIDUES ON GROWTH PERFOMANCE AND  DISTAL INTESTINE MORPHOLOGY IN TILAPIA DIET
Nguyen Thanh Trung *, Nguyen Van Nguyen1, Tran Van Khanh1, Le Hoang1,  Tran Thi Le Trinh1, Dinh Thi Men1, Nong Thi Nuong, Huynh Thi Thao Quyen 1, Nguyen Thi Ngoc Tinh2 
ABSTRACT
Recently, by-product from the soybean milk industry is high capacity and directly using in raw ingredient. Using solid-state fermentation soybean curd residue ingredient (FSCR) by Bacillus subtilis B3 to apply such as an ingredient substituted fish meal in diet and observed distal intestine morphology on tilapia’s. 
Five diets in this trial, 4 diets were replaced at 70, 80, 90 and 100% of fishmeal by FSCR and a control diet (ĐC) without replacement fishmeal. Experiment was conducted in composite tanks, 15 individual/tank in triplicate. After 8 weeks, three fish was taken to evaluate the growth rate, biological parameters of viscera (VSI), hepato (HSI), gallbladder (GSI) and intestine (ISI) somatic index and intestine morphological. 
The results showed that in growth rate the FSCR diets which replacement at 90% was higher than that in control diet in 3,6g. In biological parameters, VSI had higher than control in among FSCR diets. These were no differences between all experimental diets for HSI and GSI. Similar results were observed in ISI parameter with control diets except 100% diet.
Fishmeal could be subtituted by solid-state fermentation soybean curd residue ingredient in tilapia diet without any effect on growth performance and intestine morphological of tilapia.
Key words: Tilapia, solid-state fermented soybean curd residue, intestine morphological.
Nguyễn Thành Trung, Nguyễn Văn Nguyện1, Trần Văn Khanh1, Lê Hoàng1, Trần Thị Lệ Trinh1, Đinh Thị Mến1, Nông Thị Nương1, Huỳnh Thị Thảo Quyên1, Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh 
1 Trung tâm Công nghệ thức ăn và Sau thu hoạch thủy sản, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II
 2 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II








Bài cùng tác giả

Bài khác

Tổng số lượt truy cập :
  • 1
  • 7
  • 4
  • 5
  • 8
  • 9
  • 3
lên đầu trang